Toàn cảnh bức tranh eLearning hàng năm

Tống hợp xu thế, top những đơn vị giáo dục trực tuyến tại Việt Nam!

Đầu tư Giáo dục trực tuyến

Hỗ trợ, tư vấn, xây dựng các giải pháp Giáo dục trực tuyến, e-Learning hiệu quả.

Hệ thống eLearning cho công ty, tập đoàn

Tư vấn và xây dựng các hệ thống giáo dục trực tuyến cho công ty, tập đoàn.

Những cấp độ tương tác trong bài giảng điện tử

Xây dựng các mức tương tác trong eLearning.

Chìa khóa eLearning

Những chú ý khi mong muốn xây dựng một eLearning phát triển

Lịch sử phát triển eLearning

Những cột mốc eLearning tại Việt Nam hơn 10 năm qua!

Thursday, January 11, 2018

[Vietnam edtech report 2018] bức tranh về edtech & elearning 2017 và dự đoán 2018-2020

2017 một khoảng lặng cần thiết để edTech Việt Nam phát triển sang giai đoạn mới. Các đơn vị công nghệ giáo dục bắt đầu tập trung hơn về chất lượng, quan tâm đến trải nghiệm người dùng.


Chúng ta cùng điểm qua các nét chính về thị trường edtech & elearning 2017
  • Truyền thông cho elearning 2016 khá nhạt nhòa
  • Một số edTech đã phát triển, thâm nhập vào cách ngách mới eLearning
  • Nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm đến edTech hơn
  • Mảng B2B của eLearning bắt đầu được đẩy mạnh
  • Nhiều đơn vị tham gia vào content eLearning hơn, song vẫn ở quy mô nhỏ.

Sau đây là bản tổng thể báo cáo về edTech & eLearning 2017 và dự đoán giai đoan 2018-2020



Tôi tin rằng 2018 khởi đầu cho một giai đoạn phát triển mạnh mẽ của elearning Việt Nam.

Những edtech start-up cần mentor, tư vấn, đầu tư, kết nối đầu tư hãy liên hệ ngay:

  •  Email: nguyentrihien@gmail.com
  •  Skype: nguyentrihien
  •  Phone: 0912.268.046
  •  Facebook: fb.com/hiennguyentri

Vui lòng dẫn link từ nguồn www.nguyentrihien.com khi sử dụng nội dung và thông tin của bản báo cáo. Xin cảm ơn.

Nguyễn Trí Hiển
www.nguyentrihien.com
2018
giáo dục trực tuyến, bức tranh elearning, bức tranh edtech, tổng kết elearning, tổng kết edtech, báo cáo elearning, báo cáo edtech

Monday, January 1, 2018

Chúc mừng năm mới 2018, chúc một năm edtech thăng hoa

Chúc mừng năm mới 2018, chúc cho thị trường edtech ngày càng phát triển, nhiều đơn vị làm công nghệ giáo dục, nhiều nhà đầu tư tham gia vào thị trường.



Dành thêm 1% nỗ lực mỗi ngày cho chính MÌNH ngay từ HÔM NAY để có 1 năm thăng hoa nhé!
Sự khác biệt đến hơn 1480 lần nếu bạn ngừng cố gắng.


Nguyễn Trí Hiển
www.nguyentrihien.com
2018
giáo dục trực tuyến, elearning, edtech

Wednesday, December 27, 2017

Quy chế đào tạo từ xa trình độ đại học - năm 2017 của Bộ Giáo dục

Quy chế đào tạo từ xa trình độ đại học.
Bản PDF: https://drive.google.com/open?id=1GScspZcCrbjZRNWeDeU2SzNEEIMtTxSv


Những điểm mới về Quy chế đào tạo từ xa trình độ đại học
Quy chế đào tạo từ xa trình độ đại học theo Thông tư 10/2017/BGDĐT có những điểm mới cần lưu ý sau:
1. Quy chế đã quy định cụ thể Hệ thống ĐTTX của cơ sở giáo dục đại học; các phương thức ĐTTX: (1) Thư tín; (2) Phát thanh - Truyền hình; (3) Mạng máy tính; (4) Kết hợp 3 phương thức vừa nêu); quy định cụ thể học liệu ĐTTX bao gồm học liệu chính và học liệu bổ trợ tương ứng với phương thức ĐTTX do cơ sở giáo dục đại học lựa chọn.

2. Việc mở các khóa học đào tạo từ xa sẽ không cần sự cho phép của Bộ GDĐT như quy định hiện hành, thay vào đó quy định các cụ thể và chặt chẽ hơn về về điều kiện thực hiện chương trình đào tạo từ xa đặc biệt là các điều kiện đảm bảo chất lượng của chương trình đào tạo.

Cụ thể, tại Điều 3 của Quy chế đặt ra điều kiện tối thiểu để thực hiện chương trình từ xa với 9 khoản, từ việc xây dựng hệ thống, chương trình đào tạo, bộ máy tổ chức, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác đào tạo từ xa:

- Hệ thống ĐTTX của cơ sở giáo dục đại học đã được xây dựng hoàn chỉnh, phù hợp với phương thức ĐTTX lựa chọn.

- Việc thực hiện chương trình ĐTTX phải được xác định trong sứ mạng, tầm nhìn, phương hướng, kế hoạch phát triển của cơ sở giáo dục đại học, được Hội đồng đại học, Hội đồng trường hoặc Hội đồng quản trị quyết nghị thông qua.

- Bộ máy tổ chức và quản lý hoạt động ĐTTX đảm bảo quản lý, giám sát được quá trình giảng dạy, học tập, thi, kiểm tra, đánh giá và cấp bằng. Có đơn vị khảo thí với ngân hàng đề thi đầy đủ và thực hiện quy trình khảo thí độc lập.

- Quy định về ĐTTX của cơ sở giáo dục đại học đảm bảo tuân thủ các quy định của Quy chế này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

- Đội ngũ giảng viên, cán bộ hỗ trợ học tập, cán bộ quản lý có đủ kiến thức, đã được bồi dưỡng kỹ năng và phương pháp về giảng dạy và quản lý ĐTTX.

- Đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, thiết bị, thư viện, học liệu để triển khai ĐTTX

- Có hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý trực tuyến toàn bộ thông tin của quá trình tuyển sinh, đào tạo, khảo thí, xét tốt nghiệp và cấp bằng của từng người học.

- Đáp ứng quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng trong trường hợp cơ sở giáo dục đại học lựa chọn phương thức Mạng máy tính (Thông tư số 12/2016/TT-BGDĐT ngày 22/4/2016)

3. Giao quyền quyết định đặt trạm đào tạo từ xa cho thủ trưởng các trường đại học cho từng ngành trên cơ sở kết quả thẩm định và ý kiến của Hội đồng khoa học và đào tạo. Việc đặt trạm cũng được yêu cầu báo cáo cho Bộ GDĐT, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố tại nơi đặt trạm trước khi khai giảng.

4. Việc tổ chức đào tạo từ xa, quy chế mới cũng yêu cầu giảng viên cơ hữu của trường đại học phải thực hiện ít nhất 50% khối lượng giảng dạy của chương trình đào tạo từ xa.

5. Quy định cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học, quyền và trách nhiệm của giảng viên, người học trong đó yêu cầu cơ sở giáo dục đại học phải duy trì và phát triển hệ thống ĐTTX của cơ sở giáo dục đại học, cập nhật và hiện đại hóa phương tiện kỹ thuật để nâng cao hiệu quả, chất lượng ĐTTX theo hướng hội nhập quốc tế về ĐTTX; Công bố công khai trên trang thông tin điện tử của cơ sở giáo dục đại học những quy định liên quan đến ĐTTX, chương trình ĐTTX, các điều kiện đảm bảo chất lượng cho việc thực hiện chương trình ĐTTX, thông tin về kiểm định chất lượng của cơ sở giáo dục đại học, tình hình việc làm của người học sau khi tốt nghiệp đối với từng ngành đào tạo và từng khóa học;…

Quy chế mới quy định trách nhiệm cơ sở giáo dục đại học phải triển khai tự đánh giá chương trình ĐTTX; đăng ký tham gia kiểm định chất lượng chương trình ĐTTX theo quy định hiện hành với tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục;... nhằm thực hiện mục tiêu của Đề án phát triển đào tạo từ xa giai đoạn 2015-2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1559/QĐ-TTg ngày 10/9/2015 là đến năm 2020, 100% chương trình đào tạo từ xa cấp văn bằng được kiểm định.

6. Về đánh giá, xếp loại kết quả học tập, xét tốt nghiệp, công nhận tốt nghiệp và cấp bằng tốt nghiệp:

- Quy chế mới cũng bỏ đi nhiều quy định chi tiết về việc tổ chức thi và xét tốt nghiệp đối với chương trình đào tạo từ xa, theo đó yêu cầu Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học quy định cụ thể về tổ chức các kỳ thi kết thúc học phần, cách tính điểm và xếp hạng tốt nghiệp trên cơ sở quy định của hình thức giáo dục chính quy. Việc tổ chức thi kết thúc học phần phải được thực hiện tập trung tại cơ sở giáo dục đại học hoặc tại Trạm ĐTTX, được giám sát bởi cán bộ của cơ sở giáo dục đại học và đề thi kết thúc học phần phải lấy trong ngân hàng đề thi chung với hệ chính quy.

- Đối với vấn đề cấp bằng tốt nghiệp, quy chế mới ghi rõ, hình thức đào tạo từ xa được ghi trong văn bằng tốt nghiệp.

7. Về quy định chuyển tiếp, đối với những khóa tuyển sinh trước ngày Quy chế mới ban hành có hiệu lực, việc tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo áp dụng theo Quy chế về tổ chức đào tạo, thi, kiểm tra, cấp chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp theo hình thức giáo dục từ xa ban hành theo Quyết định số 40/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 08 tháng 8 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT. Đối với khóa tuyển sinh từ ngày Quy chế mới ban hành có hiệu lực, việc tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo áp dụng theo Quy chế mới.

======================================



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
--------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 10/2017/TT-BGDĐT
Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2017

THÔNG TƯ
BAN HÀNH QUY CHẾ ĐÀO TẠO TỪ XA TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC
Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009;
Căn cứ Luật Giáo dục đại học ngày 18 tháng 6 năm 2012;
Căn cứ Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
Căn cứ Nghị định số 32/2008/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Căn cứ Nghị định số 115/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục;
Căn cứ Nghị định số 141/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học;
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư ban hành Quy chế đào tạo từ xa trình độ đại học.
Điều 1. Ban hành kèm theo Thông tư này Quy chế đào tạo từ xa trình độ đại học.
Điều 2. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 05 tháng 6 năm 2017 và bãi bỏ các nội dung quy định về: Tuyển sinh; tổ chức và quản lý đào tạo; đánh giá kết quả học tập, xếp hạng tốt nghiệp; xét, công nhận tốt nghiệp, cấp phát văn bằng; thanh tra, kiểm tra, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong đào tạo từ xa trình độ đại học tại Quy chế về tổ chức đào tạo, thi, kiểm tra, cấp chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp theo hình thức giáo dục từ xa ban hành kèm theo Quyết định số 40/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 08 tháng 8 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Điều 3. Chánh Văn phòng Bộ, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Thủ trưởng các đơn vị có liên quan thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giám đốc các đại học, học viện, Hiệu trưởng các trường đại học chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này./.


KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG


Bùi Văn Ga

QUY CHẾ
ĐÀO TẠO TỪ XA TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC
(Ban hành kèm theo Thông tư số 10/2017/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 4 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Quy chế này quy định tổ chức hoạt động đào tạo từ xa (ĐTTX) trình độ đại học bao gồm: tuyển sinh, tổ chức và quản lý ĐTTX; quyền hạn và trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học, quyền và trách nhiệm của giảng viên, người học; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm; tổ chức thực hiện.
2. Quy chế này áp dụng đối với các đại học quốc gia, đại học vùng, học viện, trường đại học (bao gồm cả các trường đại học thành viên của đại học quốc gia, đại học vùng) trong hệ thống giáo dục quốc dân (sau đây gọi chung là cơ sở giáo dục đại học), các tổ chức và cá nhân có liên quan.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Quy chế này, các cụm từ dưới đây được hiểu như sau:
1. Hệ thống ĐTTX của cơ sở giáo dục đại học gồm: Chương trình ĐTTX; học liệu ĐTTX; bộ máy tổ chức và quản lý ĐTTX; hệ thống kiểm tra, đánh giá; hệ thống kỹ thuật hỗ trợ thực hiện ĐTTX; đội ngũ giảng viên, cán bộ hỗ trợ học tập, cán bộ quản lý; các văn bản quy định về ĐTTX.
2. Học liệu ĐTTX gồm: học liệu chính và các học liệu bổ trợ phục vụ cho quá trình đào tạo.
Học liệu chính đảm bảo cung cấp và truyền tải đầy đủ nội dung chương trình đào tạo để người học có thể tự học phù hợp với phương thức ĐTTX.
Học liệu bổ trợ cung cấp các nội dung chi tiết hỗ trợ người học hiểu biết sâu sắc, đầy đủ những nội dung trong học liệu chính, có thể là: băng đĩa ghi hình ảnh, âm thanh, đoạn phim ngắn; chương trình phát thanh, chương trình truyền hình; sách in, tài liệu hướng dẫn dạy và học với sự trợ giúp của máy tính; bài tập trên internet, bài seminar và các buổi trao đổi thảo luận, truyền hình hội nghị từ xa; bài thực tập ảo, bài thực tập mô phỏng và thực tập thực tế.
3. Các phương thức ĐTTX:
a) Thư tín: Chương trình ĐTTX được thực hiện chủ yếu bằng đường thư tín thông qua học liệu chính là tài liệu in. Học liệu chính bao gồm: giáo trình, sách tham khảo, tài liệu hướng dẫn học tập, nghiên cứu, sách bài tập, tài liệu hướng dẫn thi, kiểm tra;
b) Phát thanh - truyền hình: Chương trình ĐTTX được thực hiện chủ yếu thông qua các hệ thống phát thanh - truyền hình trong đó học liệu chính là các chương trình phát thanh, truyền hình được phát trực tiếp hoặc phát lại trên các kênh phát thanh, truyền hình;
c) Mạng máy tính: Chương trình ĐTTX được thực hiện chủ yếu thông qua mạng máy tính, mạng internet và mạng viễn thông trong đó học liệu chính là học liệu điện tử được chuyển qua mạng, việc giảng dạy được thực hiện trực tuyến hoặc không trực tuyến;
d) Kết hợp: kết hợp các phương thức nêu tại các điểm a, b và c, Khoản này.
4. Trạm ĐTTX: đặt tại cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng, trường trung cấp, trung tâm giáo dục thường xuyên, trường của cơ quan nhà nước, trường của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, trường của lực lượng vũ trang nhân dân có đủ điều kiện đảm bảo các yêu cầu về môi trường sư phạm, cơ sở vật chất, thiết bị, thư viện, thiết bị thí nghiệm, thực hành, thực tập, cán bộ quản lý để thực hiện chương trình ĐTTX.
Chương II
HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TỪ XA
Điều 3. Yêu cầu tối thiểu để thực hiện chương trình đào tạo từ xa
1. Hệ thống ĐTTX của cơ sở giáo dục đại học đã được xây dựng hoàn chỉnh, phù hợp với phương thức ĐTTX lựa chọn.
2. Việc thực hiện chương trình ĐTTX phải được xác định trong sứ mạng, tầm nhìn, phương hướng, kế hoạch phát triển của cơ sở giáo dục đại học, được Hội đồng đại học, Hội đồng trường hoặc Hội đồng quản trị quyết nghị thông qua. Cơ sở giáo dục đại học được thực hiện chương trình ĐTTX trình độ đại học đối với những ngành đã có quyết định cho phép mở ngành đào tạo hệ chính quy trình độ đại học.
3. Chương trình ĐTTX đã được xây dựng hoàn chỉnh, có kế hoạch đào tạo toàn khóa và đề cương chi tiết của từng học phần đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo, phù hợp với phương thức ĐTTX. Trong cùng một ngành đào tạo, nội dung của chương trình ĐTTX như chương trình đào tạo theo hình thức giáo dục chính quy.
4. Bộ máy tổ chức và quản lý hoạt động ĐTTX đảm bảo quản lý, giám sát được quá trình giảng dạy, học tập, thi, kiểm tra, đánh giá và cấp bằng. Có đơn vị khảo thí với ngân hàng đề thi đầy đủ và thực hiện quy trình khảo thí độc lập.
5. Quy định về ĐTTX của cơ sở giáo dục đại học đảm bảo tuân thủ các quy định của Quy chế này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
6. Đội ngũ giảng viên, cán bộ hỗ trợ học tập, cán bộ quản lý có đủ kiến thức, đã được bồi dưỡng kỹ năng và phương pháp về giảng dạy và quản lý ĐTTX.
7. Đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, thiết bị, thư viện, học liệu để triển khai ĐTTX:
a) Có phòng kỹ thuật đủ diện tích để lắp đặt các thiết bị của hệ thống ĐTTX; có phòng làm việc đủ diện tích phục vụ sinh hoạt của các cán bộ quản lý và giảng viên;
b) Có đủ các thiết bị cần thiết phục vụ cho phương thức ĐTTX;
c) Có hệ thống kỹ thuật hỗ trợ thực hiện ĐTTX đảm bảo: cung cấp các thông tin liên quan tới ĐTTX; lưu trữ và truyền tải nội dung chương trình ĐTTX tới người học; giám sát, quản lý và đánh giá người học trong quá trình học tập; lưu trữ và bảo mật thông tin về việc học tập, quá trình tham gia học tập cũng như hồ sơ cá nhân của người học; kết nối thông tin giữa người học, giảng viên và cán bộ quản lý qua hệ thống công nghệ thông tin;
d) Có hệ thống kiểm tra, đánh giá đảm bảo đánh giá được quá trình học tập hoặc đánh giá kết thúc học phần, môn học phù hợp với phương thức ĐTTX; kiểm soát và xác thực được việc học, làm bài kiểm tra, thi và thực hiện các nhiệm vụ được giao trong chương trình học tập của người học; đánh giá được đúng kết quả học tập của người học;
đ) Trang thông tin điện tử phải được cập nhật thường xuyên, công bố công khai cam kết chất lượng giáo dục, công khai các điều kiện đảm bảo chất lượng, công khai học phí và các khoản thu khác từ người học;
e) Có thư viện, thư viện điện tử với số lượng sách, giáo trình, tài liệu tham khảo, và các cơ sở dữ liệu điện tử chuyên ngành đủ để cung cấp, hỗ trợ cho việc học tập và nghiên cứu của người học;
g) Có đơn vị tổ chức sản xuất học liệu ĐTTX. Có đủ học liệu chính và học liệu bổ trợ phù hợp với phương thức ĐTTX cho 2/3 số học phần của chương trình ĐTTX cho những năm đầu và có kế hoạch xây dựng và phát triển học liệu cho các học phần còn lại.
8. Có hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý trực tuyến toàn bộ thông tin của quá trình tuyển sinh, đào tạo, khảo thí, xét tốt nghiệp và cấp bằng của từng người học.
9. Đáp ứng quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng trong trường hợp cơ sở giáo dục đại học lựa chọn phương thức Mạng máy tính.
Điều 4. Tuyển sinh
1. Trên cơ sở Quy chế tuyển sinh đại học hệ chính quy; tuyển sinh cao đẳng nhóm ngành đào tạo giáo viên hệ chính quy hiện hành và các quy định của Quy chế này, cơ sở giáo dục đại học xây dựng và ban hành Quy chế tuyển sinh ĐTTX.
2. Đối tượng tuyển sinh:
a) Công dân Việt Nam: thực hiện theo quy định của Quy chế tuyển sinh đại học hệ chính quy; tuyển sinh cao đẳng nhóm ngành đào tạo giáo viên hệ chính quy hiện hành;
b) Công dân nước ngoài: xét tuyển theo quy định của cơ sở giáo dục đại học.
3. Giám đốc đại học quốc gia, đại học vùng, học viện; hiệu trưởng trường đại học (sau đây gọi chung là Thủ trưởng các cơ sở giáo dục đại học) quyết định phương thức tuyển sinh: thi tuyển; xét tuyển; hoặc kết hợp giữa thi tuyển và xét tuyển theo Quy chế tuyển sinh đại học hệ chính quy; tuyển sinh cao đẳng nhóm ngành đào tạo giáo viên hệ chính quy.
4. Hội đồng tuyển sinh ĐTTX do Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học quyết định thành lập. Thành phần, nhiệm vụ và trách nhiệm của Hội đồng tuyển sinh ĐTTX thực hiện theo quy chế tuyển sinh đại học chính quy hiện hành.
5. Thông báo tuyển sinh và các thông tin liên quan đến chương trình ĐTTX phải được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của cơ sở giáo dục đại học ít nhất 02 tháng trước ngày tuyển sinh; chỉ tiêu tuyển sinh, phương thức tuyển sinh, đối tượng tuyển sinh, mức học phí và các khoản thu khác của người học cho từng năm học và dự kiến cả khóa học, thời gian tuyển và phương thức ĐTTX phải được công bố công khai trong thông báo tuyển sinh.
6. Điều kiện, trình tự tiếp nhận lưu học sinh người nước ngoài được thực hiện theo quy chế quản lý người nước ngoài học tập tại Việt Nam hiện hành.
7. Kết quả tuyển sinh phải được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của cơ sở giáo dục đại học.
Điều 5. Đặt trạm đào tạo từ xa
1. Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học tổ chức kiểm tra thực tế tại Trạm ĐTTX và xác nhận các điều kiện đảm bảo chất lượng, đảm bảo đáp ứng các yêu cầu để thực hiện chương trình ĐTTX.
2. Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học quyết định việc đặt Trạm ĐTTX cho từng ngành đào tạo trên cơ sở ý kiến của Hội đồng khoa học và đào tạo.
Điều 6. Tổ chức và quản lý đào tạo từ xa
1. Tổ chức ĐTTX được thực hiện theo học chế tín chỉ. Cơ sở giáo dục đại học quy định cụ thể thời gian tối đa thực hiện chương trình ĐTTX, nhưng không quá 2 lần thời gian thiết kế của chương trình đào tạo theo hệ chính quy.
2. Hội đồng chuyên môn được Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học thành lập xem xét, công nhận kết quả học tập để chuyển đổi, miễn trừ những học phần mà người học đã tích luỹ ở các chương trình đào tạo cấp văn bằng khác theo những quy định cụ thể của cơ sở giáo dục đại học.
3. Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học tổ chức xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình ĐTTX theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; tổ chức thẩm định học liệu trước khi đưa vào sử dụng.
4. Cung cấp cho người học kiến thức, kỹ năng về học tập từ xa trước khi tham gia chính thức khoá học.
5. Bố trí giảng viên, cán bộ quản lý giảng dạy, hướng dẫn, hỗ trợ học tập, thí nghiệm, thực hành theo đúng yêu cầu của chương trình ĐTTX. Giảng viên cơ hữu phải thực hiện ít nhất 50% khối lượng giảng dạy của chương trình ĐTTX.
6. Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học quy định cụ thể yêu cầu về khối lượng học tập tối đa được phép đăng ký trong mỗi học kỳ.
7. Việc tổ chức ĐTTX phải đảm bảo sự tương tác giữa người học với giảng viên, giữa người học với người học; đảm bảo ít nhất 04 hoạt động học tập chính: tham dự buổi học, buổi hướng dẫn, seminar và hội thảo; học tập những nội dung từ các học liệu chính và các học liệu bổ trợ; thực hiện các hoạt động học tập và làm các bài tập đánh giá; tham vấn và đặt câu hỏi với các giảng viên.
8. Cung cấp cho người học cơ hội tham gia tư vấn định hướng nghề nghiệp, các buổi hướng dẫn, chương trình thực tập nghề nghiệp.
9. Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học quy định xếp hạng năm đào tạo và học lực, học cùng lúc hai chương trình đối với người học được thực hiện trên cơ sở quy định về đào tạo trình độ đại học hình thức giáo dục chính quy của cơ sở giáo dục đại học và phù hợp với hình thức ĐTTX.
10. Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học quy định về xử lý nghỉ học tạm thời, đình chỉ học tập, thôi học, cảnh báo kết quả học tập, buộc thôi học, chuyển ngành, chuyển trường trên cơ sở các quy định đối với hình thức đào tạo chính quy và phù hợp với hình thức ĐTTX.
Điều 7. Đánh giá kết quả học tập, xếp hạng tốt nghiệp
1. Quy trình kiểm tra, đánh giá phải phổ biến trước để đảm bảo người học hiểu được các yêu cầu cho việc hoàn thành từng học phần và chương trình đào tạo.
2. Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học quy định về việc đánh giá quá trình học tập, tổ chức thi hoặc kiểm tra giữa kỳ trên cơ sở quy định của hình thức giáo dục chính quy và phù hợp với hình thức ĐTTX.
3. Việc tổ chức thi kết thúc học phần phải được thực hiện tập trung tại cơ sở giáo dục đại học hoặc tại Trạm ĐTTX, được giám sát bởi cán bộ của cơ sở giáo dục đại học.
4. Đề thi kết thúc học phần phải lấy trong ngân hàng đề thi chung với hệ chính quy.
5. Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học quy định việc tổ chức các kỳ thi kết thúc học phần, cách tính điểm và xếp hạng tốt nghiệp trên cơ sở quy định của hình thức giáo dục chính quy.
Điều 8. Xét, công nhận tốt nghiệp, cấp phát văn bằng và bảng điểm
1. Người học được cơ sở giáo dục đại học xét, công nhận tốt nghiệp khi có đủ các điều kiện sau:
a) Tại thời điểm xét tốt nghiệp không trong thời gian bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập;
b) Hoàn thành chương trình ĐTTX, tích lũy đủ số tín chỉ theo quy định; đáp ứng chuẩn đầu ra của cơ sở giáo dục đại học.
2. Căn cứ vào các điều kiện tốt nghiệp, cơ sở giáo dục đại học tổ chức xét, công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng cho người học đã đủ các điều kiện tốt nghiệp theo quy định. Hình thức ĐTTX được ghi trong văn bằng tốt nghiệp.
3. Việc in, quản lý, cấp phát, thu hồi, hủy bỏ văn bằng thực hiện theo các quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
4. Bảng điểm cấp cho người học phải ghi rõ tên các học phần được công nhận và miễn trừ, số tín chỉ tương ứng của từng học phần được miễn trừ.
Điều 9. Chế độ báo cáo
1. Từ ngày 15 tháng 12 đến trước ngày 31 tháng 12 hàng năm, các cơ sở giáo dục đại học báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo kết quả ĐTTX bao gồm: Tuyển sinh; quy mô đào tạo; tổ chức đào tạo; cấp bằng tốt nghiệp trong năm; và dự kiến kế hoạch tuyển sinh năm sau.
2. Nội dung báo cáo phải có đánh giá các hoạt động ĐTTX của cơ sở giáo dục đại học và đề xuất giải pháp để củng cố, phát triển hệ thống ĐTTX của cơ sở giáo dục đại học.
3. Cung cấp thông tin quản lý về tuyển sinh, quá trình đào tạo, khảo thí, xét tốt nghiệp và cấp bằng cho Bộ Giáo dục và Đào tạo theo yêu cầu ở khoản 8, Điều 3 của Quy chế này.
Điều 10. Quản lý và lưu trữ hồ sơ
1. Hồ sơ được bảo quản và lưu trữ tại cơ sở giáo dục đại học gồm có:
a) Hồ sơ, minh chứng về các yêu cầu quy định tại Điều 3 của Quy chế này;
b) Hồ sơ liên quan đến đặt Trạm ĐTTX;
c) Chương trình ĐTTX; kế hoạch đào tạo toàn khóa; kế hoạch đào tạo chi tiết cho từng học phần;
d) Hồ sơ tuyển sinh, kết quả quá trình học tập, hồ sơ công nhận tốt nghiệp;
đ) Hồ sơ có liên quan đến thi kết thúc học phần;
e) Sổ cấp phát văn bằng.
2. Hồ sơ được bảo quản và lưu trữ tại Trạm ĐTTX gồm có:
a) Hồ sơ liên quan đến đặt Trạm ĐTTX;
b) Chương trình ĐTTX; kế hoạch đào tạo toàn khóa; kế hoạch đào tạo chi tiết cho từng học phần;
c) Danh sách và kết quả học tập của người học;
d) Danh sách giảng viên, cán bộ quản lý có liên quan tới khóa học.
3. Cơ sở giáo dục đại học quy định cụ thể quy trình và thời hạn lưu giữ hồ sơ ĐTTX theo Luật lưu trữ và các văn bản quy định hiện hành.
Chương III
QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC; QUYỀN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA GIẢNG VIÊN, NGƯỜI HỌC TRONG ĐÀO TẠO TỪ XA
Điều 11. Quyền hạn và trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học
1. Xây dựng các quy định cụ thể của cơ sở giáo dục đại học về ĐTTX theo quy định của Quy chế này.
2. Xác định các yêu cầu của chương trình ĐTTX để đảm bảo chất lượng đào tạo.
3. Công bố công khai trên trang thông tin điện tử của cơ sở giáo dục đại học những quy định liên quan đến ĐTTX, chương trình ĐTTX, các điều kiện đảm bảo chất lượng cho việc thực hiện chương trình ĐTTX, thông tin về kiểm định chất lượng của cơ sở giáo dục đại học, tình hình việc làm của người học sau khi tốt nghiệp đối với từng ngành đào tạo và từng khóa học.
4. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng về phương pháp và kỹ năng cần thiết cho đội ngũ giảng viên, cán bộ hỗ trợ học tập, cán bộ quản lý để có thể tham gia thực hiện chương trình ĐTTX.
5. Tổ chức tuyển sinh, tổ chức và quản lý ĐTTX theo Quy chế này và các quy định về ĐTTX của cơ sở giáo dục đại học.
6. Báo cáo các thông tin liên quan đến việc đặt Trạm ĐTTX cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt Trạm ĐTTX trước khi khai giảng khoá học.
7. Triển khai tự đánh giá chương trình ĐTTX; đăng ký tham gia kiểm định chất lượng chương trình ĐTTX theo quy định hiện hành với tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục.
8. Bồi hoàn học phí cho người học nếu cơ sở giáo dục đại học vi phạm Quy chế này hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật dẫn đến người học không được cấp bằng.
9. Duy trì và phát triển hệ thống ĐTTX của cơ sở giáo dục đại học, cập nhật và hiện đại hóa phương tiện kỹ thuật để nâng cao hiệu quả, chất lượng ĐTTX theo hướng hội nhập quốc tế về ĐTTX.
Điều 12. Quyền và trách nhiệm của giảng viên
1. Được hưởng các quyền lợi chung và phụ cấp do Nhà nước quy định đối với giảng viên, các chế độ theo quy định của cơ sở giáo dục đại học.
2. Được tạo điều kiện thực tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp đặc thù của ĐTTX.
3. Được ưu tiên sử dụng thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công tác ĐTTX; được hỗ trợ tạo điều kiện áp dụng các phương pháp và công nghệ dạy học tiên tiến trong điều kiện của cơ sở giáo dục đại học và phù hợp với phương thức ĐTTX.
4. Giảng dạy, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập một cách khách quan và theo đúng quy định đã công bố công khai trước khi tuyển sinh.
5. Tham gia xây dựng chương trình đào tạo, đề cương môn học, ngân hàng đề thi, sản xuất học liệu phục vụ giảng dạy; nghiên cứu, cải tiến và đưa vào ứng dụng trong thực tiễn những phương thức đào tạo, thi, kiểm tra, đánh giá trong ĐTTX có hiệu quả.
6. Tạo môi trường học tập thân thiện và tăng cường sự tương tác, kết nối thông tin giữa giảng viên và người học trong quá trình đào tạo.
7. Hướng dẫn người học xây dựng kế hoạch tự học tập, lựa chọn môn học hoặc học phần trong chương trình đào tạo của ngành học, phương pháp học tập, nghiên cứu phù hợp với điều kiện học tập.
8. Giải đáp những thắc mắc của người học trong quá trình đào tạo, hỗ trợ người học giải quyết những khó khăn nảy sinh khi thông tin liên lạc gặp sự cố.
9. Giảng viên được phân công làm trợ giảng thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ giảng viên trong giảng dạy, giúp giảng viên trong việc phụ đạo, hướng dẫn bài tập, thảo luận, thí nghiệm, thực hành; kiểm tra, giám sát, khuyến khích việc tham gia học tập của người học.
Điều 13. Quyền và trách nhiệm của người học
1. Được cung cấp đầy đủ thông tin về tuyển sinh, thời hạn đăng ký nộp hồ sơ, chương trình ĐTTX, điều kiện công nhận giá trị chuyển đổi kết quả học tập, kế hoạch đào tạo, quy định về ĐTTX, yêu cầu về bằng cấp và các chính sách ĐTTX của cơ sở giáo dục đại học.
2. Được quyền tham gia học tập các tín chỉ cùng với hệ đào tạo chính quy, hệ vừa làm vừa học theo quy định của cơ sở giáo dục đại học.
3. Được cung cấp đầy đủ các thông tin về đánh giá công nhận chuyển đổi kết quả học tập và có thể đề nghị xem xét lại việc đánh giá công nhận kết quả học tập của cơ sở giáo dục đại học.
4. Nộp hồ sơ đầy đủ và đúng thời gian đã được cơ sở giáo dục đại học công bố; nộp lệ phí và học phí theo quy định của cơ sở giáo dục đại học.
5. Lập kế hoạch học tập cụ thể theo các yêu cầu về bằng cấp của cơ sở giáo dục đại học về chương trình ĐTTX đã được công bố để có thể được cấp bằng tốt nghiệp.
6. Chấp hành Quy chế ĐTTX của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các nội quy, quy định của cơ sở giáo dục đại học.
7. Chủ động liên lạc với giảng viên hoặc cán bộ hỗ trợ học tập trong quá trình học để được hướng dẫn, hỗ trợ.
Chương IV
THANH TRA, KIỂM TRA, KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, XỬ LÝ VI PHẠM VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 14. Thanh tra, kiểm tra
1. Cơ sở giáo dục đại học có trách nhiệm tự kiểm tra, thanh tra nội bộ việc tuyển sinh, thực hiện kế hoạch, chương trình, quy chế đào tạo và các vấn đề khác liên quan đến ĐTTX; chịu sự kiểm tra, thanh tra, giám sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan có thẩm quyền theo các quy định hiện hành.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về tuyển sinh, đào tạo, cấp bằng ĐTTX của cơ sở giáo dục đại học theo các quy định của pháp luật.
3. Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra trong phạm vi quản lý của mình, theo phân công và phân cấp của Chính phủ.
Điều 15. Khiếu nại, tố cáo
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo về hành vi vi phạm quy chế ĐTTX của cơ sở giáo dục đại học, của giảng viên, cán bộ quản lý và người học.
2. Việc khiếu nại, tố cáo; giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo quy định hiện hành của pháp luật khiếu nại, tố cáo.
Điều 16. Xử lý vi phạm
1. Việc xử lý các vi phạm trong tuyển sinh thực hiện theo quy chế tuyển sinh đại học chính quy hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2. Việc xử lý kỷ luật đối với người học vi phạm các quy định về thi, kiểm tra được thực hiện theo quy định của quy chế đào tạo đại học chính quy hiện hành.
3. Trong quá trình tổ chức thực hiện ĐTTX, cơ sở giáo dục đại học, cá nhân có liên quan để xảy ra sai phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành.
4. Cơ sở giáo dục đại học bị đình chỉ tuyển sinh ngành đào tạo theo hình thức ĐTTX trong các trường hợp sau đây:
a) Không đảm bảo điều kiện tối thiểu để chương trình đào tạo được thực hiện quy định tại Điều 3 của Quy chế này;
b) Đã bị dừng tuyển sinh ngành đào tạo đối với hình thức giáo dục chính quy;
c) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Điều 17. Quy định chuyển tiếp
1. Đối với những khoá tuyển sinh trước ngày Quy chế này có hiệu lực, việc tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo áp dụng theo Quy chế về tổ chức đào tạo, thi, kiểm tra, cấp chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp theo hình thức giáo dục từ xa ban hành theo Quyết định số 40/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 08 tháng 8 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2. Đối với khóa tuyển sinh từ ngày Quy chế này có hiệu lực, việc tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo áp dụng theo Quy chế này./.


KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG


Bùi Văn Ga

Nguyễn Trí Hiển
www.nguyentrihien.com
2018
edtech | elearning | giáo dục trực tuyến | startup | mentor | đầu tư giáo dục | educoin

Thursday, October 26, 2017

Trung Quốc đưa trí tuệ nhân tạo (AI) vào lớp học, bước tiến mới trong giáo dục tương lai

Hính phủ Trung Quốc đã đưa giáo dục trên cơ sở hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo (AI) trở thành chiến lược quốc gia, đây là một phần trong lộ trình phát triển AI nhằm đưa đất nước trở thành trung tâm toàn cầu của công nghệ AI vào năm 2030, theo kế hoạch của chính phủ được Quốc vụ viện Trung Quốc phê chuẩn hồi tháng 7.


Cất đỡ gánh nặng cho giáo viên

Đối với Peter Cao, người đã dành 16 năm làm công việc dạy hóa trong một trường THPT tại tỉnh An Huy, mỗi giáo viên giống như một “bác sĩ”.

Cao dành 2 - 3 giờ/ngày để chấm điểm, quá trình mà thầy giáo 38 tuổi ví như “chẩn đoán bệnh”.

“Bằng cách chấm bài tập về nhà của học sinh, tôi có một bức tranh tổng thể về mức độ hiểu bài” - Cao cho biết. Việc “chẩn bệnh” giúp Cao lập kế hoạch giảng dạy cho ngày tiếp theo.

Tuy nhiên, Cao cũng như 14 triệu giáo viên khác sẽ không phải mất nhiều thời gian như vậy nữa nếu chương trình của Master Learner - một doanh nghiệp khởi nghiệp - được đưa vào nhà trường.

Nói dễ hiểu thì đó là một hệ thống máy móc giống một “siêu giáo viên”, một bộ não “siêu cấp” có khả năng trả lời gần 500 triệu câu hỏi thi cấp THCS Trung Quốc cũng như ghi điểm cao trong kì thi “gaokao”, kì thi tuyển sinh đại học khốc liệt nổi tiếng thế giới, trong 30 năm qua.

Hệ AI nói trên được phát triển bởi 300 kĩ sư của Master Learner, được “huấn luyện” bằng cách mỗi ngày cho “ôn tập” 5 trăm triệu câu hỏi Toán, Vật lí và Hoá học của học sinh THCS Trung Quốc.


Trí tuệ nhân tạo tìm đường vào lớp học

“Rất khó để đạt được cả hiệu quả và chất lượng trong giáo dục. Với AI, chúng ta có thể làm được điều đó” - theo Zhang Kailei, người sáng lập và Giám đốc điều hành Master Learner. Công ty có trụ sở tại Thượng Hải này được ước tính giá trị hơn 100 triệu USD.

Công ty khởi nghiệp của Zhang là một trong nhiều công ty giáo dục trực tuyến Trung Quốc quan tâm tới việc đưa AI vào các lớp học truyền thống, tiếp cận nhiều người hơn với giáo dục chất lượng cao hơn và hiệu quả tốt hơn tại một quốc gia nơi những nguồn lực giáo dục và giáo viên tốt nhất từ trước đến nay chỉ được tiếp cận bởi những gia đình khá giả tại những thành phố lớn.

Hujiang, một trong những địa chỉ GD trực tuyến lớn nhất tại Trung Quốc, đang nghiên cứu công nghệ “đọc” hình ảnh khuôn mặt và giọng nói để nắm bắt được phản ứng và phản hồi trên khuôn mặt học sinh, nhằm cải thiện tương tác giữa học sinh và giáo viên trong các giờ học trực tuyến.

Ben Hu, một doanh nhân khởi nghiệp tại Thượng Hải cho biết sau nhiều năm “huấn luyện”, hệ thống AI của công ty mình có thể phân tích thói quen học tập và soạn chương trình học Anh ngữ dựa trên nhu cầu cá nhân. Công ty của Hu cũng có một ứng dụng học Anh ngữ đang hoàn thiện được gọi là Liulishuo, có thể dạy nhiều học sinh cùng lúc với chỉ một giáo viên AI - qua đó có thể giảm đáng kể học phí.

Các chuyên gia và giới kinh doanh đều nhìn nhận AI là bước đi không thể khác được nhằm phát triển giáo dục Trung Quốc, quốc gia có 188 triệu học sinh đang đi học.

“AI sẽ cải thiện ngành giáo dục Trung Quốc. Với những thay đổi trong chuyển tải kiến thức dựa trên AI, sẽ giảm chi phí và tăng hiệu quả giáo dục” - Roger Chung, quản lí cao cấp tại Deloitte Research, cơ quan chuyên phân tích về viễn thông, truyền thông và công nghệ.

Theo giaoducthoidai
Nguyễn Trí Hiển
www.nguyentrihien.com
2017

Saturday, April 8, 2017

Những bí mật chốn công sở ai cũng biết nhưng chẳng mấy người chịu chia sẻ

Trong thế giới của dân công sở, có rất nhiều bí mật trong quá trình làm việc, lao động mà nhiều người "ngộ" ra trong khoảng thời gian làm việc thế nhưng chẳng mấy người chịu nói nó ra với đồng nghiệp hay những "tân binh" mới.







Rất nhiều người cho rằng, chỉ cần có năng lực sẽ có chỗ đứng trong công ty, chỉ cần chăm chỉ, nỗ lực làm việc sẽ có cơ hội thăng tiến. Nhưng thực tế lại không như nhiều người tưởng tượng, năng lực trong công việc quả thực rất quan trọng, thế nhưng quan trọng hơn nó còn là thành tích làm việc của bạn. Vậy làm thế nào để tạo nên thành tích cho mình, bạn thực sự không có năng lực, lãnh đạo mời bạn về làm việc để làm gì?

1. Định luật bất biến nơi làm việc:


- Vấn đề của công ty là cơ hội để bạn cải thiện.
- Vấn đề của khách hàng là cơ hội để bạn cung cấp dịch vụ.
- Công sở là nơi khiến cho người có thể giải quyết vấn đề thăng tiến, và người tạo ra vấn đề mất chỗ, người chỉ biết phàn nàn mất cơ hội.
- Lãnh đạo tốt là người luôn yêu cầu nghiêm ngặt, như vậy mới thực sự giúp bạn phát triển.

2. Thế giới của lãnh đạo:
- Mời bạn về làm việc để giải quyết vấn đề chứ không phải là để tạo ra vấn đề.
- Nếu bạn không thể phát hiện ra vấn đề hay có thể giải quyết vấn đề, bản thân bạn cũng sẽ chính là một vấn đề.
- Bạn có thể giải quyết vấn đề to lớn bao nhiêu, bạn sẽ ngồi vị trí cao bấy nhiêu.
- Bạn có thể giải quyết được bao nhiêu vấn đề, bạn sẽ nhận được mức lương thưởng tương xứng.

3. Không có công lao, khổ lao cũng vô nghĩa:

- Doanh nghiệp cần kết quả chứ không phải quá trình
- Trong doanh nghiệp, bất kể bạn bận rộn vất vả thế nào, nếu như công việc mất đi hiệu quả thì mọi vất vả của bạn đều vô ích.
- Thành tích làm việc là căn cứ để bạn thăng tiến.

4. Đừng dễ dàng từ bỏ tập thể, nếu không bạn lại phải bắt đầu lại từ đầu:
- Đừng thấy không thuận lợi mà vội vàng từ bỏ, tập thể nào cũng có vấn đề, và tập thể nào cũng có ưu điểm.
- Theo đúng lãnh đạo rất quan trọng, đồng ý dạy bạn và đồng ý cho bạn làm là người lãnh đạo bạn cần trân trọng.
- Gặp vấn đề gì tự tìm cách giải quyết, chỉ biết phản ánh vấn đề đó là trình độ sơ cấp, suy nghĩ và giải quyết vấn đề mới là trình độ cấp cao.
- Than vãn chê bai tập thể là tự vả vào mặt mình, tự nhận mình không làm được là từ bỏ cơ hội.
- Biết ơn doanh nghiệp đã cho bạn chỗ đứng, cảm ơn đồng nghiệp đã hỗ trợ bạn.

5. Vấn đề chính là cơ hội của bạn:

- Vấn đề của công ty là cơ hội để bạn cải thiện.
- Vấn đề của khách hàng là cơ hội để bạn cung cấp dịch vụ.
- Vấn đề của chính bản thân bạn là cơ hội để bạn trưởng thành.
- Vấn đề của đồng nghiệp là cơ hội để bạn hỗ trợ và hợp tác.
- Vấn đề của lãnh đạo là cơ hội để bạn tích cực giải quyết và có được sự tín nhiệm.
- Vấn đề của đối thủ cạnh tranh là cơ hội khiến bạn trở nên mạnh mẽ hơn.

6. Chỉ vì thành công tìm phương pháp, không vì thất bại tìm cách biện minh:

- Trách nhiệm của bạn chính là phương hướng của bạn, tính cách của bạn quyết định vận mệnh của bạn.
- Việc phức tạp giải quyết một cách đơn giản, bạn chính là chuyên gia. Việc đơn giản làm đi làm lại, bạn là người ngoại đạo. Việc lặp đi lặp lại vẫn hết mình làm, bạn là người chiến thắng.
- Bạn nếu như không muốn làm, lúc nào cũng có thể tìm được lý do; còn bạn thật sự muốn làm, lúc nào cũng sẽ tìm ra cách.

7. Dùng thành tích làm việc chứng minh giá trị bản thân:


- Bất kể chúng ta làm việc gì đều cần thành tích làm việc tốt để chứng minh giá trị bản thân đối với công ty, ai có thể đem tạo ra lợi nhuận cho công ty người đó ắt hẳn lương sẽ cao.
- Bill gates từng nói: “người có thể kiếm tiền cho công ty, đó là người công ty cần nhất”.

Công ty nào cũng cần có lợi nhuận để duy trì sự phát triển, điều đó đòi hỏi mỗi một nhân viên trong công ty phải cống hiến năng lực và tài trí của mình. Và đó cũng là nơi để để mỗi người chứng minh thành tích làm việc của bản thân, nâng cao vị thế của mình trong công ty.

Nếu như bạn không làm ra thành tích sớm muộn bạn sẽ bị đào thải, do vậy thành tích chính là sự tôn nghiêm và là sự vinh dự của mỗi người. Bạn nên nhớ rằng, lãnh đạo thường không quan tâm đến quá trình làm việc, họ chỉ quan tâm đến kết quả. Thành tích trong công việc quyết định sự nghiệp và cuộc sống của bạn.

Theo CafeBiz

Nguyễn Trí Hiển
www.nguyentrihien.com
2017

Wednesday, March 29, 2017

Giáo dục trực tuyến 2017: Mô hình nào sẽ thành công?

Thị trường giáo dục trực tuyến tại Việt Nam ước tính có quy mô tính bằng tỷ USD, nhưng còn quá nhiều rào cản cho cuộc cách mạng rất tiềm năng này.

Alex Tabarrok, một nhà kinh tế tại Đại học George Mason (Mỹ) và đồng sáng lập của một trang web giáo dục trực tuyến, Marginal Revolution University, ví giáo dục trực tuyến như mô hình của ngành công nghiệp giải trí vì sẽ cũng đến ngày các giáo sư nổi tiếng trên khắp thế giới như các siêu sao trong ngành công nghiệp giải trí. Không chỉ vậy, giáo dục trực tuyến cũng có cơ hội bùng nổ như một thị trường đầy tiềm năng.

Mô hình tiềm năng
Sự ra đời của internet, giáo dục trực tuyến có thể xoá đi mọi rào cản. Bất cứ ai có kiến thức, khả năng truyền đạt tốt đều có thể trở thành người đi dạy và bất cứ ai có nhu cầu đều có thể đi học. Dù chi phí sản xuất cao nhưng các khóa học trực tuyến có cơ hội mang lại lợi nhuận cao nhất.

Theo nghiên cứu của Global Industry Analysts, thị trường giáo dục trực tuyến toàn cầu đạt hơn 100 tỉ USD trong năm 2016. Còn theo The Economist, số người đăng ký học trực tuyến trên thế giới năm 2016 đạt 60 triệu người và dự báo đạt 70 triệu người trong năm nay. Với nhiều đại học danh tiếng trên thế giới, không quá ngạc nhiên khi Mỹ hiện là quốc gia có nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ MOOC (Massive Online Open Coures - các khóa học trực tuyến quy mô lớn) nổi tiếng nhất. Có thể kể đến như Coursera, edX và Udacity. Hơn 17 trường đại học hàng đầu của Mỹ và các quốc gia khác cung cấp những khóa học trực tuyến miễn phí thông qua Công ty Giáo dục Trực tuyến Coursera, trong đó có cả các trường đại học nổi tiếng như Harvard và Massachusetts.




Giáo dục trực tuyến cũng được du nhập vào Việt Nam từ khá sớm. Ông Nguyễn Thành Nam, người sáng lập Đại học Trực tuyến FPT (FUNiX), cho biết, trước năm 2010, đã có các đơn vị tiên phong tìm kiếm cơ hội kinh doanh với mô hình này như Violet.vn, hocmai.vn TOPICA..., phần lớn đi theo mô hình e-learning. Đến năm 2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo khởi động dự án đại học ảo nhưng không để lại nhiều dấu ấn trên thị trường.

Tháng 8.2013, GiapSchool là đơn vị đầu tiên mở cổng MOOC với nhiều khóa học trong các lĩnh vực khác nhau. Khoảng 2 năm sau, FPT tham gia bằng một dự án MOOC khác mang tên FUNiX. Theo ông Nguyễn Trí Hiển, chuyên gia nghiên cứu giáo dục trực tuyến, đến năm 2016, Việt Nam có khoảng 150 dự án khởi nghiệp trong lĩnh vực giáo dục trực tuyến. Các đơn vị này cung cấp chương trình giảng dạy từ thiếu nhi, đại học cho đến người đi làm.

Với 40% dân số kết nối internet, chủ yếu là giới trẻ, nhu cầu học hành cao. Mỗi năm, người Việt Nam chi 3-4 tỉ USD để cho con cái du học. Vì thế, thị trường giáo dục đào tạo trực tuyến đang đầy tiềm năng với quy mô lớn cùng tốc độ tăng trưởng doanh thu hơn 40% mỗi năm, ước tính quy mô thị trường không dưới 2 tỉ USD. Do đó, không chỉ các doanh nghiệp trong nước đầu tư, Việt Nam cũng là điểm đến hấp dẫn các nhà đầu tư ở châu Á như Nhật, Hàn Quốc hay Singapore. “Hiện nay, có 5 đơn vị đang dẫn đầu thị trường là Topica, FUNiX, Kyna, Tienganh123 và eGroup”, ông Hiển nhận định.

Rào cản tại thị trường Việt Nam
Tại các nước đang phát triển, giáo dục trực tuyến là cơ hội lớn để đẩy nhanh cải cách giáo dục, đào tạo. Qua đó, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Trong lúc giáo dục Việt Nam chuyển biến quá chậm thì đào tạo trực tuyến có thể đẩy nhanh tốc độ cải tiến giáo dục. Dù được đánh giá là lĩnh vực hấp dẫn và khả năng bùng nổ cao, nhưng cho đến nay, nguồn lực đầu tư vào giáo dục trực tuyến vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Trong năm 2016, tổng số tiền đầu tư vào các công ty khởi nghiệp trong ngành giáo dục bằng công nghệ trên toàn cầu là gần 8 tỉ USD, tương đương với thị trường trò chơi trực tuyến, dù ngành giáo dục được định giá lớn hơn 50 lần, tương đương 91 tỉ USD.

Tại Việt Nam, tính đến hết năm 2016, Việt Nam có 309 dự án đầu tư vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo với tổng số vốn đăng ký hơn 767 triệu USD. Tuy nhiên, theo thống kê của Tổ chức Topica Founder Institute, năm 2015, có 67 công ty khởi nghiệp nhận được đầu tư, 3 đến 4 trong số đó là vào giáo dục trực tuyến. Đến năm 2016, chỉ có Kyna.vn (trước đây là Delta Việt), đơn vị chuyên cung cấp các khóa học đào tạo kỹ năng mềm và chuyên môn nhận đầu tư từ Quỹ CyberAgent Ventures (Nhật).

Trên thế giới, theo The Economist, các khóa học trực tuyến thu hút nhiều học viên tham gia nhất là quản trị kinh doanh, công nghệ thông tin, khoa học và khoa học xã hội. Trong khi đó, theo nghiên cứu của Đại học Washington (Mỹ), nhóm người thu nhập thấp và trung bình chiếm tới 80% số đăng ký khóa học MOOC. Ở Việt Nam, theo ông Hiển, giống như nhiều dự án công nghệ khác, các công ty giáo dục trực tuyến ở Việt Nam phát triển một cách tự phát. Vì thế, trong 3 năm trở lại đây, dù chứng kiến nhiều doanh nghiệp tham gia thị trường nhưng chỉ là yếu tố “lượng”, “chất” vẫn thiếu.

Giáo dục số có các mô hình học trực tuyến, gồm: Video Streaming, tương tác người - máy và tương tác người - người. Cho đến nay, mô hình học trực tuyến tương tác giữa học viên và giảng viên được lựa chọn nhiều hơn. Mặc dù vậy, phần lớn các chương trình tại Việt Nam vẫn tập trung vào phần luyện thi đại học, luyện tiếng Anh hay các khóa học về kỹ năng mềm. Cách làm của doanh nghiệp giống nhau, dẫn đến việc đi vào lối mòn dạy và học. “Sinh viên học vì bị bắt buộc, mở video chạy đối phó cho đủ giờ; số khác đăng ký học rồi bỏ giữa chừng vì không chủ động hoặc thiếu sự giúp đỡ khi gặp thắc mắc về kiến thức. Theo tôi biết, nấu ăn và làm đẹp mới là nghề được học phổ biến nhất trên internet”, ông Nam của FUNiX nói.

Nhóm người thu nhập thấp và trung bình chiếm tới 80% số đăng ký khóa học MOOC.

Có thể nhìn thấy khá nhiều rào cản lớn đối với các khóa học trực tuyến như khoảng cách giữa người dạy và học, thói quen học, hạ tầng công nghệ... Doanh nghiệp đầu tư nội chủ yếu đến từ nhóm công nghệ thông tin và nhóm giáo viên muốn tham gia vào lĩnh vực đào tạo trực tuyến. Còn các nhà đầu tư nước ngoài thiên về hướng đưa các chương trình đã thành công trên thế giới về Việt Nam nhưng phần địa phương hóa lại chưa đủ hấp dẫn nên thiếu nhiều tay chơi lớn để tạo ra một thị trường sôi động. Bên cạnh đó, xã hội Việt Nam cho đến nay vẫn đặt nặng tư duy bằng cấp nhưng vẫn không nhiều doanh nghiệp có thể “đóng dấu” vào tấm bằng của người học sau khi tốt nghiệp. Cho đến nay cả thị trường chỉ có Topica và FUNiX là có bằng được chứng nhận của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Lời giải bài toán “con gà - quả trứng”
Giáo dục trực tuyến nằm trong loại hình hoạt động thứ tư của nền kinh tế chia sẻ. Tuy nhiên, trên thế giới vẫn chưa có công thức tài chính chuẩn cho lĩnh vực này. Hiện nay, các khóa học trực tuyến dần phát triển và phải tìm kiếm nguồn doanh thu mới. Với MOOC, các giảng viên không còn cần phải làm việc trực tiếp với một trường đại học mà hoàn toàn có thể tạo ra các ebook hoặc bán các bài giảng. Một nhà đầu tư đào tạo tiếng Anh trực tuyến tại Việt Nam tính toán: nếu trong một năm có 20.000 lượt học và giá mỗi bài giảng là 10.000 đồng, thì doanh thu một năm trên mỗi bài giảng là 200 triệu đồng. Lợi nhuận tiếp tục phát sinh trong những năm tiếp theo. Phép tính này rất hấp dẫn nhưng trong khi thị trường chưa sẵn sàng và giáo dục trực tuyến là mô hình kinh tế dựa trên quy mô, một câu hỏi thú vị đặt ra là mức độ đầu tư vào mô hình này như thế nào và khi nào sẽ hái trái ngọt?


Coursera hiện là đơn vị kinh doanh giáo dục trực tuyến lớn nhất thế giới, cung cấp 1.700 khóa học cho 24 triệu học viên trên toàn cầu. Kể từ khi thành lập vào năm 2011, doanh nghiệp này đã được đầu tư tổng cộng hơn 140 triệu USD và vẫn chưa có lợi nhuận. Tương tự, Udacity, một đơn vị chuyên cung cấp các khóa học trong lĩnh vực công nghệ với 11.000 học viên, cũng chưa thấy lợi nhuận dù đã được đầu tư hơn 160 triệu USD. Theo tìm hiểu của NCĐT, phần lớn các khóa học của Udacity có giá khoảng 4,5 triệu đồng (199 USD/tháng), trong khi Coursera đang chuyển sang hình thức thuê bao với mức phí từ 39-89 USD mỗi tháng.

Ở Việt Nam, ông Thành Nam cho rằng đầu tư vào giáo dục trực tuyến hiện nay là bài toán chưa rõ chi phí. Ở mô hình đại học truyền thống, doanh nghiệp phải có giấy phép, có đất, có đội ngũ giáo viên cơ hữu, có thời gian biểu... Đây là các thông số cố định có thể tính toán giá học phí đầu ra để đảm bảo lợi nhuận. Còn giáo dục trực tuyến thì khác, doanh nghiệp có thể bắt đầu với chi phí rất thấp nhưng tốc độ mở rộng của nhóm này rất nhanh và không giới hạn về số lượng lẫn khung giờ tham gia, từ đó sẽ phát sinh nhiều chi phí không lường trước được.

Chẳng hạn, các khóa học MOOC đòi hỏi sự hợp tác của nhiều người bao gồm cả quay phim chụp ảnh, thiết kế giảng dạy, các chuyên gia công nghệ thông tin và các chuyên gia nền tảng... “Chỉ khi có số lượng học viên nhất định, doanh nghiệp mới có thể giải được bài toán chi phí khi đầu tư mô hình này”, ông Thành Nam cho biết. Hiện FUNiX chỉ giới hạn trong chuyên môn ngành công nghệ thông tin với hơn 1.000 học viên tham gia trong 16 tháng qua.

Kể từ khi được đầu tư, Kyna.vn đã phát triển thêm nhánh Quản trị kinh doanh trực tuyến Mana, nền tảng học và luyện thi chứng chỉ ngoại ngữ KynaLingo và giải pháp đào tạo nội bộ trực tuyến KynaBiz. Công ty cũng đang thử nghiệm đưa vào yếu tố gamification (hình thức đưa các yếu tố trò chơi điện tử vào việc học tập), nhằm gia tăng sự hứng thú của học viên. Bà Hồ Hồng Bảo Trâm, Giám đốc Điều hành Kyna Group, cho biết hiện có khoảng 400.000 người đăng ký học tại Công ty.

Trên thực tế, dù chưa thể thay thế nhưng xu hướng giáo dục trực tuyến cũng đang tác động lớn đến mô hình giáo dục truyền thống. Theo Tiến sĩ Đàm Quang Minh, Giám đốc Điều hành khối Cao đẳng Việt Mỹ (IAE), đầu tư công nghệ là xu hướng tất yếu trong giáo dục vì chi phí của giáo dục truyền thống quá cao, hạn chế sự tiếp cận của nhiều gia đình. IAE hiện sở hữu 1 trường đại học, 1 trường cao đẳng, 2 hệ thống đào tạo tiếng Anh với tổng số học viên là 20.000 người nhưng cũng đang trong kế hoạch lên internet.

Việc ứng dụng công nghệ, trước mắt sẽ giải quyết bài toán nhân lực, với mô hình truyền thống, đào tạo 2,5 triệu sinh viên cần khoảng 100.000 giáo viên trong khi giáo dục trực tuyến cần con số ít hơn nhiều. “Tuy nhiên, việc đầu tư vào lĩnh vực giáo dục trực tuyến hiện cũng không đơn giản, chi phí sản xuất cho mỗi bàn giảng lên đến vài chục triệu đồng nhưng chỉ thu lại tầm 300.000 đồng. Rất nhiều nhà đầu tư đã bỏ vài triệu USD vào lĩnh vực này nhưng vẫn chưa hái được trái ngọt”, ông Minh nói.

Theo chuyên gia Trí Hiển, đầu tư giáo dục trực tuyến là đầu tư đường dài, không thể có lời nhanh nhưng khi thương hiệu, chất lượng sản phẩm được chào đón thì mô hình này sẽ đem lại lợi nhuận đột biến vì chỉ mất một lần chi phí sản xuất nội dung nhưng có thể khai thác nhiều lần. “Thị trường giáo dục trực tuyến 2017 là năm bản lề, bước ngoặt chuyển đổi giữa số lượng sang chất lượng. Từ đó sẵn sàng cho việc xuất hiện nhiều tên tuổi, nhiều thương vụ mua bán sáp nhập, nhiều ông lớn trong lĩnh vực giáo dục trực tuyến xuất hiện trong năm 2018 và 2019”, ông Trí Hiển nhận định.

Công Sang - Đức Tài
* Nguồn: Nhịp cầu Đầu tư

Nguyễn Trí Hiển
www.nguyentrihien.com
2017

Nguồn báo:

Saturday, March 4, 2017

Top 100 kênh Youtube được xem nhiều nhất trên thế giới năm 2017



Top 100 kênh Youtube được xem nhiều nhất trên thế giới năm 2017. Điều đặc biệt là có khá nhiều kênh thuộc lĩnh vực giáo dục.







Nguyễn Trí Hiển
www.nguyentrihien.com
2017

Friday, March 3, 2017

Khác biệt về giáo dục phổ thông giữa 08 nước trên thế giới.

Mỗi lớp học ở Australia chỉ có 18 học sinh, thể dục là môn học chính ở Brazil. Ở Pháp, học sinh bị cấm mặc mọi trang phục tôn giáo tới trường.










Nguyễn Trí Hiển
www.nguyentrihien.com
2017